Showing posts with label Lời nói đầu. Show all posts
Showing posts with label Lời nói đầu. Show all posts

Lời nói đầu

BS. Dư Quang Châu -
Tác giả cuốn sách 
Nói đến KINH DỊCH thì ai trong chúng ta cũng có một thích thú nào đó nhưng không thể tìm hiểu được và KINH DỊCH hầu như chỉ dành riêng cho một số người “Chuyên nghiên cứu KINH DỊCH” Đôi lúc chúng tôi thầm nghĩ :Như vậy có quá bất công không?

Hầu hết sách viết về KINH DỊCH đều khó hiểu và dùng quá nhiều từ Hán, Nôm làm cho người nào dù có ham thích đi nữa, khi đọc qua vài lần rồi cũng buông xuôi, KINH DỊCH vẫn là KINH DỊCH, lúc nào cũng như có một bức màn vô hình che chắn, nên mặc dù có sức hấp dẫn nhưng vẫn không tiếp cận được.Chúng tôi thì lại không tin điều đó, phải làm sao cho mọi người ai cũng có thể hiểu KINH DỊCH một cách dễ dàng cũng như sách dạy nấu ăn vậy.

Xuất phát từ suy nghĩ trên, chúng tôi mặc dù không phải là những nhà nghiên cứu KINHH DỊCH cũng quyết tâm biên sọan quyển KINH DỊCH và Năng Lượng Cảm Xạ Học để gửi đến những ai thích  tìm hiểu về một cuốn sách cổ của Phương Đông chúng ta.

Chúng tôi hy vọng rằng sau khi đọc xong quyển sách này thì KINH DỊCH sẽ không còn là một cái gì bí ẩn qua những hệ thống tìm và thiết lập quẻ khá đơn giản, cũng như những hình ảnh vui nhộn minh họa ý nghĩa của từng quẻ làm cho các bạn thích thú, dễ hiểu.

Chúc các bạn thành công.

BS. Dư Quang Châu
Tác giả


Lời mở đầu

Để bước vào tìm hiểu về Dịch lý những nhà khoa học hiện đại khi góp công sức để vẽ nên bản đồ gene của bản thể loài người đã nắm trọn mọi di biến động của bản thể con người đã góp phần bổ sung cái hình nhị hạ xây dựng quan niệm nhân sinh thiết thực của cuộc sống nghĩ rằng đã có bàn tay của chúa.Vậy khi thiết kế nên họa đồ âm dương vũ trụ. Khổng tử chỉ đặt tên là Kinh Dịch mà không tiện cho đó là chiếc đũa của quỷ thần để nắm trọn việc lý học về vũ trụ lẫn nhân sinh như cái hình nhị thượng mô tả triết lý cao siêu vô hình.

Như vậy cả hai "Bàn tay của Chúa" và "Chiếc đũa của Quỷ Thần" đều đã nói lên quy luật sinh hóa của vạn vật trong vũ trụ bao la như biển cả và trong con người - cái phần vũ trụ nhỏ nhoi như hạt bụi - đều gọi là Dịch. Dịch có chữ viết tượng trưng như một con rắn thằn lằn biến đổi 12 lần trong 1 ngày cùng 12 tháng trong năm.

Dịch mang 3 nội dung:
  • Một là: bất dịch (không thay đổi như trời đất, đêm ngày, trai gái…)
  • Hai là: giao dịch (thay đổi đối nghịch nhau như âm dương)
  • Ba là: biến dịch (biến đổi để tạo ra cái phát sinh mới)
Đây là phần cơ bản nhất trong sự biến động của cơ thể con người (nói riêng) và cơ thể vũ trụ (nói chung).
Tần Thủy Hoàng nhà độc tài chính trị khi cho đốt sách (năm 213 trước công nguyên) cũng đã phải để lại quyển kinh dịch (bộ sách triết học cơ bản của nho giáo - đứng đầu tứ thư ngũ kinh) vì coi đó không phải là bộ sách mang tính tuyên truyền cho một dường lối chính trị phục vụ cho một chế độ hay một thời kỳ lịch sử.

Kinh dịch có 3 loại:
  • Một là Liên sơn dịch:sách dịch nhà hạ lấy quẻ Cấn làm đầu vì Cấn tượng trưng cho mây ở núi bốc ra liên miên.
  • Hai là Quy tàng dịch: sách dịch nhà Thương và Ân lấy quẻ Khôn làm đầu. Quẻ Khôn tượng trưng cho đất vì vạn vật xoay chuyển rồi cũng trở về đất
  • Ba là Chu dịch: sách dịch nhà Chu cho rằng đạo dịch luân chuyển đầy đủ không ngừng mọi lúc mọi nơi, lấy quẻ Kiền làm đầu.
Để hiểu dịch là gì? Trước hết bắt đầu từ nguyên thủy vũ trụ - một khoảng không gian vô hình được biểu tượng là một vòng tròn trống không. Đó là thái cực, tuy nhiên còn có khái niệm khác cho rằng trước thái cực còn có vô cực . cũng còn là không gian trống không và vô hình. Cái trống không và vô hình ấy có phải chăng chính là "hố đen" mà con người ngày nay đã trông thấy nó!

Thái cực là nơi kết nối Vô cực với Âm dương là điểm khởi đầu cho cuộc sinh hóa của vũ trụ. Từ cái khoảng không gian vô hình đã hình thành nên hai phần gọi là Lưỡng nghi, tức là gồm Dương (động, nóng, trong, sáng, nhẹ, nổi lên trên) biểu tượng là một vạch đơn (#), Âm (tỉnh, lạnh tối, đục, nặng, đọng ở dưới) biểu tượng bằng một vạch đứt (--) (hay ta thử gọi là 2 vạch con).

Mặc dù lý thuyết của dịch được miêu tả trên giấy bằng những mã vạch trông như những mã vạch hàng hóa siêu thị, ở đây mã vạch mô tả cái vật chất ban đầu của vũ trụ để bắt đầu định tính và định lượng thời gian và không gian. Trông vào những mã vạch vũ trụ, người xưa đã có khả năng mô tả về lẽ biến của dịch, bắt đầu từ thái cực để sinh ra Lưỡng nghi, rồi từ Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái.

Những nhà kinh dịch học căn cứ vào sự luân chuyển biến hóa của khí âm dương mà tạo thành Thủy, Mộc, Hỏa, Kim, Thổ.

Âm dương là hiện tượng vô hình. Sự phối hợp âm dương với các sự vật là sự phối hợp về khí hóa. Có những âm dương học quan niệm âm dương là khí, trời đất là sự vật. nóng lạnh, đêm ngày là sự kiện.quang minh chính đại hay gian tà lén lút là hành động. Quân tử tiểu nhân là người. Thiện ác là tính tình…

Quyển sách dịch mà tôi đang cầm trên tay để đọc. Theo tôi hiểu đây là cách hiểu riêng của người viết, và người viết đã hiểu theo cách của mình. Nhưng Khổng tử người được xem như là nhà thiết kế nền tảng nho giáo học - người đã đọc nguyên bản sách dịch đến 3 lần, đã đứt lề và đã làm ra 10 thiên truyện mà vẫn còn phải tự than thân trách phận "gia ngã sổ niên tốt dĩ học dịch khả dĩ vô đại quá hỹ" (trời cho ta mà sống thêm được mấy năm nữa để học dịch thì ta sẽ có thể không lầm lẫn vậy).

Vậy để hiểu được kinh dịch cho thấu đáo Khổng tử kia còn chưa dám tự hào huống hồ chỉ một quyển sách nhỏ này lại dám lớn tiếng?! mà chỉ tự nên xem như là quyển sổ tay của người "học đánh vần".

Kinh dịch được xem một khái niệm để cho những nhà triết học cổ xưa ứng dụng phát triển trong nhiều lĩnh vực khảo nghiệm khác nhau để tri hành đúng quy luật của tạo hóa để xây dựng con người quân tử trên thông thiên văn vũ trụ nắm được đạo trời, dưới thạo địa lý nhân văn bắt được đạo đất, thấu được mọi việc biến hóa của quỷ thần để hành động tránh gặp phải lầm lẫn .

Trong các xã hội mù mịt, mắt chưa được mở ra hẳn thì Kinh Dịch lại có tác dụng nhiều nhất ở phần suy đoán số phận con người không chỉ trong xã hội bình thường qua mối tương quan của luân thường đạo lý của cái gọi là tương tự như "hạ tầng cơ sở " mà còn có tham vọng trong đời sống chính trị cái phần trông giống như "thượng tầng kiến trúc" và có chú ý đến phần ứng dụng của nó ở lĩnh vực y học để luận đoán bệnh tật .

Tuy nhiên, mục tiêu của nhóm nhà biên soạn bộ sách này để phục vụ làm tài liệu tham khảo trong giới đại học mà đặt vấn đề tìm hiểu kinh dịch lại thông qua một loại phương tiện khác để hấp dẫn người hiện đại đã từng chán chường lối học kinh điển hay dùng tư duy tự luận mà thay vào đó phương thức thực nghiệm ứng dụng như một nhà ảo thuật có nhiều kỹ xảo.

Tuy nhiên nhà Phật cũng đã từng cảnh cáo những tu sĩ của mình rằng đừng chạy theo cái phần ứng dụng tuyệt vời của hiệu ứng pháp thuật của bùa chú ẩn nấp trong phương pháp tu hành đầy công phu và khổ luyện mà rồi xuống núi dụ dỗ, quyến rũ như một gánh hát sơn đông mãi võ để kiếm mấy bát cơm mấy đồng xu của người bình dị, yếu đuối.

Tiến sĩ sử học Nguyễn Mạnh Hùng
Hiệu trưởng trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Những dòng suy nghĩ


Cách đây vài năm, có một số đông anh chị em ở các Tỉnh thành, trong đó có tôi được anh Dư Quang Châu hướng dẫn áp dụng các quẻ của KINH DỊCH để điều chỉnh những mất cân bằng của cơ thể. Điều này rất mới, vì trước giờ chưa nghe ai nói và cũng chẳng thấy ai làm.

KINH DỊCH là một trong những tác phẩm văn hóa cổ đại của dân tộc Trung Hoa, nội dung vô cùng sâu rộng, đề cập nhiều vấn đề phong phú từ trong thực tiển cuộc sống và sản xuất  và từ các quá trình nhận thức tự nhiên, cải tạo tự nhiên.Trong KINH DỊCH, sáu mươi tư quẻ đã nêu ra sáu mươi tư phương thức âm dương biến đổi, đối lập, thống nhất, nó chẳng phải là ước đóan chủ quan, mà chính là phản ánh qui luật quan hệ phổ biến của thiên nhiên và con người, giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan cho nên trên thế giới nhiều học giả nổi tiếng tham gia nghiên cứu KINH DỊCH không phải là chuyện lạ… Mới đầu KINH DỊCH chỉ là sách Bói, đến đời nhà CHÂU thành một sách triết lý tổng hợp tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa.Qua đời HÁN, nó bắt đầu có màu sắc, hình tượng số học.Đến đời TỐNG nó thành Lý học,gần đây, đặc biệt có Thiệu Khương Tiết là một trong những người bảo vệ, sáng tạo và nâng cao KINH DỊCH, viết  MAI HOA Dịch Số, hướng dẫn nhiều cách thiết lập một quẻ Dịch: Ngòai cách dùng 3 đồng tiền, tính lá cây, còn tính theo thời gian, tiếng động, tiếng nói, số lượng, màu sắc v.v…Ngày nay có Thiệu Vĩ  Hoa là cháu đời thứ 25 của Thiệu Khương Tiết nối nghiệp tổ tiên viết quyển CHU DỊCH với dự đóan học, được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Ở Việt Nam, là những nhà khoa cử, kể cả những người không ra ứng thí, thảy đều qua KINH DỊCH, vì muốn đăng khoa, hay đi sâu vào môn khoa học cụ thể nào đó, tức nhiên phải dồi mài TỨ THƠ (Mạnh tử, Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung):NGŨ KINH (Kinh Thi, Kinh Thơ, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu): Sử Tử, Cửu Lưu, Tam Giáo v.v… (Người đời ggọi chung là phải dồi mài KINH SỬ để chờ kịp khoa). Những người đi sâu vào KINH DỊCH hay nổi tiếng tinh thông Dịch lý thì rất ít, ngòai Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà sứ giả nhà Thanh ngợi khen và thán phục:”AN NAM Lý Học hữu TRÌNH TUYỀN…” Ở nước AN NAM tinh thông Lý Học có TRÌNH TUYỀN HẦU – tức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, câu này được ghi vào lịch sử Trung Quốc.

Về sau này, có nhiều nhà dịch thuật như :Ngô Tất Tố, Phan Bội Châu, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Mạnh Bảo … viết về KINH DịCH, nội dung ngòai việc giải thích quái từ, hào từ, nhưng cũng có những quẻ dịch thóat ý, đậm nét về cách làm chính trị, họat động thực tiễn, sản xuất, đời sống, triết lý, ẩn dụ, dự đóan hoặc hướng về tu thân , tề gia, xử thế…

KINH DỊCH cũng được ứng dụng vào nhiều môn khoa học cụ thể nhất là môn Y học cổ truyền nên đời xưa có câu :”Dục học-y, tiên học DỊCH “ – Muốn học Y, trước phải lo học DỊCH.Vì biết Dịch mới tính thông nguyên Lý Am Dương, ngũ hành sinh khắc … mới lý giải được cơ chế tạng phủ trong cơ thể con người mà có phương pháp điều trị hữu hiệu.

Quyển KINH DịCH và NĂNG LƯỢNG CẢM XẠ HỌC về hình thức có một điều khá lý thú là tác giả đã dùng nhiều hình ảnh để minh họa nội dung từng vấn đề, vừa vui tươi, vừa nhẹ nhàng lại vừa hấp dẫn mang tính thuyết phục cao, làm người đọc dễ nhớ, dễ dẫn dắt vào ngưỡng cửa của Dịch Học.

Về cách lấy quẻ, ngoài việc dùng ba đồng tiền, đếm lá cây, quyển sách này còn đề cập đến một số cách lấy quẻ mới mà Thiệu Khương Tiết, các nhà Dịch số, các chiêm tinh gia chưa từng đề cập tới, đó là:

- Sử dụng quả lắc để xác định hào âm hay hào dương của quẻ.
- Sử dụng việc rung động từng khu vực trong cơ thể theo chiều thuận, nghịch mà xác định hào Am hay Dương.
- Sử dụng sự chuyển động của tám đốt ngón tay để tính quẻ.
- Sử dụng sáu khu vực của cơ thể, chia thành thượng quái, hạ quái, kết hợp với 8 quẻ : Thiên, Trạch, Hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn,Địa để làm thành quẻ.
- Sử dụng sự rung động của cơ thể tìm quẻ động.

Tóm lại, nhìn lại các tác phẩm DỊCH HỌC trước đây, suy nghĩ về quyển KINH DỊCH và NĂNG LƯỢNG CẢM XẠ HỌC hiện nay đúng là “Cách tân, nhật tân, hữu nhật tân “.

Xuân KỶ MÃO 1999

Nguyễn Minh Đức